Ông Vũ "nhôm" không phải là một cán bộ công chức làm việc trong các cơ quan Nhà nước, nhưng vì sao lại bị khởi tố tội làm lộ bí mật Nhà nước?
Theo tin tức từ báo Tuổi Trẻ, Tiền Phong, Cơ quan An ninh điều tra (Bộ Công an) đã ra quyết định khởi tố và phát lệnh truy nã đối với ông Phan Văn Anh Vũ (tức Vũ "nhôm", SN 1975, Chủ tịch HĐQT Công ty Bắc-Nam 79) về tội Cố ý làm lộ tài liệu bí mật của Nhà nước theo điều 263 Bộ luật hình sự.
Ngay sau khi công bố Quyết định khởi tố, Cơ quan An ninh điều tra (Bộ Công an) cũng công bố Quyết định truy nã do Thiếu tướng Lý Anh Dũng, Phó Thủ trưởng Thường trực Cơ quan An ninh điều tra (Bộ Công an) ký ngày 21/12 về việc truy nã Phan Văn Anh Vũ/ sau khi xác định bị can không có mặt tại nơi cư trú và không biết bị can đang ở đâu.
Đáng chú ý, ông Vũ nhôm không phải là cán bộ công chức Nhà nước, vậy vì sao ông Vũ nhôm lại bị khởi tố về tội danh này? Trao đổi với Báo Giao thông về trường hợp này, Luật sư Nguyễn Văn Hậu, Phó Chủ tịch Hội Luật gia TP.HCM cho biết, Điều 263 Bộ Luật hình sự đã quy định rất rõ về tội cố ý làm lộ bí mật Nhà nước; tội chiếm đoạt, mua bán, tiêu hủy tài liệu bí mật Nhà nước.
| Ông Phan Văn Anh Vũ bị phát lệnh truy nã. Ảnh: Infonet. |
Theo luật sư Hậu, cố ý làm lộ bí mật Nhà nước là loại tội phạm này xâm phạm an ninh đối nội, đối ngoại của Nhà nước thông qua hành vi vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng và bảo vệ bí mật Nhà nước (theo danh mục đã được quy định). Đối tượng tác động của tội phạm này là bí mật Nhà nước, trong đó, danh mục bí mật Nhà nước trong từng ngành, lĩnh vực được quy định rất cụ thể.
Cố ý làm lộ bí mật Nhà nước là làm cho người khác biết được bí mật bằng mọi hình thức (lời nói, chữ viết, hình vẽ…). Tội phạm hoàn thành khi người thứ hai không có trách nhiệm biết được bí mật đó.
Bên cạnh đó, còn có hành vi chiếm đoạt tài liệu bí mật Nhà nước bằng cách dùng vũ lực, lén lút, cướp giật, lừa đảo để có được bí mật Nhà nước. Tội phạm hoàn thành khi bí mật thoát khỏi sự quản lý của người quản lý.
Cũng trao đổi về vấn đề này trên báo Pháp luật TP.HCM, luật sư Nguyễn Văn Nhàn (Đoàn Luật sư TP.HCM) cho rằng về mặt chủ thể của tội phạm, đối với hành vi cố ý làm lộ bí mật nhà nước thì phải là người có trách nhiệm quản lý bí mật nhà nước. Nhưng đối với hành vi chiếm đoạt, mua bán, tiêu hủy tài liệu bí mật nhà nước thì bất kỳ ai có năng lực trách nhiệm hình sự theo luật định cũng phải chịu trách nhiệm.
Ông Vũ "nhôm" có thể bị truy tố một trong các hành vi thuộc phạm vi quy định tại Điều 263 BLHS. Do đó việc ông không là người giữ chức vụ, quyền hạn gì trong cơ quan nhà nước vẫn có thể bị truy tố với tội này là điều bình thường.
Trên báo Tri thức trực tuyến, luật sư Trần Tuấn Anh (Đoàn luật sư Hà Nội) cũng cho biết, các quy định hiện nay đang được áp dụng theo Danh mục tài liệu bí mật do Nhà nước ban hành (năm 1991). Với từng Bộ, Ban, ngành cụ thể, cơ quan quản lý có văn bản riêng quy định về danh mục tài liệu mật. Những tài liệu này thường được đóng dấu mật.
Theo Điều 263, tội Cố ý làm lộ bí mật Nhà nước được phân ra 3 mức khung hình phạt.
Theo Khoản 1, người cố ý làm lộ bí mật Nhà nước hoặc chiếm đoạt, mua bán, tiêu huỷ tài liệu thì bị phạt tù từ 2 - 7 năm.
Khoản 2 quy định phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, bị phạt đến 10 năm tù. Còn khoản 3 dành cho người phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, khung hình phạt cao nhất là 15 năm tù.
Hiện nay, hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa có quy định nào về mức độ làm lộ bí mật Nhà nước (ít hay rất nghiêm trọng).
Tuy nhiên, trong quá trình xét tội, cơ quan chức năng căn cứ vào tính chất vụ việc hoặc tùy vào kết quả điều tra để quy mức độ phạm tội.
Ngoài ra, cơ quan tố tụng có thể xem xét sự tác động của hành vi làm lộ tài liệu bí mật lên đời sống xã hội, ảnh hưởng đến dư luận, thiệt hại về kinh tế để làm căn cứ đánh giá mức độ phạm tội thuộc Khoản 1, 2 hay 3.
Hà Trang (tổng hợp)